"30-4, đừng làm người ta đau thêm nữa...". Ai quyết định hòa hợp hòa giải?

Đăng lúc: Thứ hai - 01/05/2017 05:16 - Người đăng bài viết: nguoivietdiendan
Hòa giải sao được, khi chính quyền đang dùng bạo lực để đàn áp tiếng nói dân oan?

Hòa giải sao được, khi chính quyền đang dùng bạo lực để đàn áp tiếng nói dân oan?

"Lúc ấy, giá chúng ta khôn khéo hơn trong chính sách đối nội, thì đã trấn an được lòng người. Tôi muốn nói rằng, nếu ngày ấy chúng ta đẩy mạnh hòa hợp dân tộc, chúng ta có cái khoan dung của người chiến thắng, thì sẽ làm yên lòng người dân, nói chính xác là sẽ làm một bộ phận không nhỏ người dân miền Nam yên lòng với chế độ mới. Nhưng thay vì khoan dung và khéo léo trong đối nội, chúng ta lại có những chính sách như cải tạo công thương nghiệp. Những chính sách ấy từ khi áp dụng ở miền Bắc đã thấy trục trặc rồi, vậy mà ta lại tiếp tục áp dụng ở miền Nam. Hậu quả là làm nền sản xuất không thể nào đứng vững được, người dân thì hoang mang"...."Không thể có hòa hợp- hòa giải, khi những người dân cất tiếng nói đòi phản biện, khiếu kiện, đấu tranh ôn hòa còn bị đánh đập tàn nhẫn và bị giam cầm. Người đặt các điều kiện cho hòa hợp- hòa giải bây giờ là nhân dân"

"30-4, đừng làm người ta đau thêm nữa..."

Đoan Trang/ Dân Luận


Ảnh: Ngô Vương Anh

Đó là lời ông Nguyễn Dy Niên, cựu Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam, nói với tôi vào một ngày tháng tư cách đây 7 năm, khi tôi là phóng viên báo Pháp luật TP.HCM.
Tôi rất nhớ bài báo này, rất nhớ năm 2010 (kỷ niệm nghìn năm Thăng Long), cũng như rất nhớ tòa soạn. Tôi nhớ quá trình liên hệ để cuộc phỏng vấn được diễn ra đã hết sức khó khăn, tuy nhiên mọi sự đau đầu nhức óc đã chấm dứt khi tôi ngồi xuống đối diện ông Nguyễn Dy Niên và ông bắt đầu chia sẻ. Vào lúc ấy, tôi đã biết chắc bài báo sẽ thành công.

Cách tòa soạn đối xử với bài phỏng vấn sau đó cũng làm tôi cảm động vì nó quá trọng thị… nhất là đối với một “thành phần phức tạp” như tôi.

Nói chung, năm 2010 và thời gian làm phóng viên ở Pháp luật TP.HCM là những năm tháng mà tôi không thể nào quên. “Tây Đô thành hoài cổ”, “Căng thẳng thời hậu chiến”, “Kết nối âm thầm”, “30/4, giá mà chúng ta khôn khéo hơn”, “Vĩnh biệt người viết Nhật ký thời bao cấp”… bao nhiêu bài viết của tôi đã ra đời vào cái thời ấy – một thời trẻ trung, trong sáng, tràn ngập nhiệt tình với nghề báo, nhưng cũng đầy bất trắc, lo âu...

* * *
ÔNG NGUYỄN DY NIÊN ĐÃ NÓI GÌ?

- Sau khi giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, chúng ta bước vào một thời kỳ hòa bình và xây dựng. Nhưng phải nói rằng khúc khải hoàn ngắn quá, bởi ngay sau đó, chúng ta lại vướng vào chiến tranh ở biên giới Tây Nam, Pol Pot bắt đầu quấy phá, rồi chiến tranh Campuchia. Đó là thời kỳ cực kỳ khó khăn, miền Bắc kiệt quệ, xơ xác sau những năm tháng dốc toàn lực cho chiến trường, miền Nam đổ vỡ vì chiến tranh, các vấn đề kinh tế - xã hội đặt ra rất lớn, công việc thì bề bộn. Đất nước hồi đó khó khăn lắm.

Tuy nhiên, cũng phải nói rằng, thời gian sau ngày 30-4-1975 là một cơ hội cực kỳ tốt mà chúng ta chậm khai thác. Hầu như tất cả các nước phương Tây khi ấy đều muốn thiết lập quan hệ với Việt Nam. Mỹ cũng muốn bình thường hóa quan hệ với ta. Bởi vì vị thế của Việt Nam lúc đó là vị thế của người chiến thắng, ngời ngời vinh quang, các nước rất nể trọng, quý mến. Nhưng rất tiếc là chúng ta còn dè dặt – cũng một phần do những ràng buộc của lý luận - nên đã bỏ lỡ, không tận dụng được cơ hội ấy.

Đến lúc ta vướng vào vấn đề Campuchia thì tất cả những thuận lợi đó đều mất đi: Trước hết là những người ủng hộ ta bắt đầu hoang mang, không hiểu tại sao một dân tộc đã tự giải phóng mình nay lại đưa quân sang nước khác. Rồi tới những người trước đây đã lưỡng lự, chưa hoàn toàn ủng hộ Việt Nam, thì đến lúc này họ quay hẳn sang chống lại chúng ta. Họ đâu biết rằng Việt Nam đang làm một nghĩa vụ quốc tế cực kỳ quan trọng mà không dân tộc nào lúc đó làm được, đâu biết rằng vào Campuchia là Việt Nam phải hy sinh ghê gớm lắm, mất đi sự ủng hộ của thế giới, mất bao xương máu, mất cả nguồn lực kinh tế dồn vào để bảo vệ, giúp đỡ Campuchia. Đến bây giờ, khi đã hiểu ra tình hình rồi, người ta mới cảm ơn Việt Nam. Chúng ta luôn mong muốn hòa bình, nhưng vào giai đoạn ấy, chúng ta bắt buộc phải làm những việc khiến vị thế quốc tế của mình gặp khó khăn.

Lúc ấy, giá chúng ta khôn khéo hơn trong chính sách đối nội, thì đã trấn an được lòng người. Tôi muốn nói rằng, nếu ngày ấy chúng ta đẩy mạnh hòa hợp dân tộc, chúng ta có cái khoan dung của người chiến thắng, thì sẽ làm yên lòng người dân, nói chính xác là sẽ làm một bộ phận không nhỏ người dân miền Nam yên lòng với chế độ mới. Nhưng thay vì khoan dung và khéo léo trong đối nội, chúng ta lại có những chính sách như cải tạo công thương nghiệp. Những chính sách ấy từ khi áp dụng ở miền Bắc đã thấy trục trặc rồi, vậy mà ta lại tiếp tục áp dụng ở miền Nam. Hậu quả là làm nền sản xuất không thể nào đứng vững được, người dân thì hoang mang.

… Từ năm 1976 ta bắt đầu đàm phán với Mỹ. Nhưng lúc ấy mình đưa ra, như trong nghề ngoại giao chúng tôi hay nói, đưa ra cả một “cục xương” mà họ không nuốt nổi (cười), đó là bồi thường chiến tranh. Chủ trương của chúng ta ngày ấy là dứt khoát đòi bồi thường. Trưởng đoàn Phan Hiền lên đường đàm phán, lãnh đạo căn dặn đại ý “hai triệu sinh mạng đã mất trong chiến tranh, anh nhớ lấy điều đó”. Với chủ trương ấy, trong tình hình ấy, người đàm phán không thể làm khác được, thế là chúng ta bỏ mất cơ hội bình thường hóa quan hệ với Mỹ, trong khi vào thời điểm đó, mình là người ra điều kiện để bình thường hóa. Sau này, tới những năm 90 thì Mỹ lại là bên ra điều kiện. Ta bỏ lỡ mất 20 năm. Nhưng nói vậy thôi, cũng phải hiểu rằng lúc đó, chúng ta chưa chuẩn bị được đâu. Miền Nam vừa giải phóng mà lại có một Đại sứ quán Mỹ mới ở TP.HCM… thì cũng khó chứ…

30-4 là một khúc khải hoàn vĩ đại của dân tộc, nhưng 35 năm đã trôi qua rồi. Tôi nghĩ giờ đây chúng ta cần một khúc khải hoàn mà mọi người dân Việt Nam, dù ở bất kỳ nơi đâu, cũng đều có thể hát được. Đó chính là hòa bình, độc lập và hòa hợp dân tộc để cùng xây dựng đất nước. Sau 35 năm, tình hình đã khác rồi. Nếu chúng ta làm được điều này thì vị thế của Việt Nam, những con mắt nhìn vào Việt Nam, sẽ thay đổi.

Những dịp 30-4 như thế này là dịp để làm gia tăng tinh thần đại đoàn kết. Phải làm sao để huy động tất cả các lực lượng, cho dù còn ý nọ ý kia. 30-4, đừng làm người ta đau thêm nữa. Người chiến thắng dẫu sung sướng, nhưng cũng phải nhìn thấy nỗi đau của những bà mẹ mất con. Cho nên, mình phải thấy phía bên kia nhiều đau đớn lắm.

Phải làm sao để thế hệ trẻ bên kia hướng về đất nước mà bảo rằng đây là Tổ quốc CHUNG của những người Việt Nam, bất luận ở đâu (ông Nguyễn Dy Niên nhấn mạnh). Tổ quốc không của riêng ai. Lúc này là lúc phải đoàn kết lại tất cả để cùng nhau hát lên lời ca Vua Hùng dựng nước, chúng ta cùng xây dựng để đất nước phát triển. Không mộng tưởng trở thành cường quốc gì cả, nhưng chúng ta phải thể hiện ý chí của một dân tộc: vươn lên. Tôi nghĩ lúc này là lúc phải làm, đừng nói một chiều nữa. Tất nhiên phải trân trọng những người đã hy sinh, đã đổ xương máu, nhưng 35 năm qua rồi, phải nghĩ xa hơn, nghĩ tới tương lai.
Hòa hợp là lúc này đây, bây giờ là lúc cần hòa hợp. Mình phải nghĩ tới tương lai dân tộc. Đừng để chia rẽ nữa, chia rẽ đã gây bao đau thương cho dân tộc rồi. Người chiến thắng phải bao dung, độ lượng, kéo tất cả mọi người lại…


 

Ai quyết định hòa hợp hòa giải?

Tâm Don/ Dân Luận 01/05/2017

Hơn 44 năm sau ngày ký kết Hiệp định Paris – ngày 27-1-1973 – cụm từ “hòa hợp hòa giải” – một cụm từ đã xuất hiện trong điều 11 của Hiệp định này- vẫn còn xuất hiện trên các tờ báo trong nước. Thế nhưng, chưa hề có một sự “hòa hợp, hòa giải” đúng như điều này mong đợi 44 năm trước đó.

THẢM KỊCH THẮNG-THUA

Hiệp định Paris về Việt Nam hoặc hiệp định Paris 1973 (ở miền Nam còn gọi là Hiệp định Ba Lê) là hiệp định chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam do 4 bên tham chiến: Hoa Kỳ, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Cộng hòa miền Nam Việt Nam và Việt Nam Cộng hòa (VNCH) ký kết tại Paris ngày 27 tháng 1 năm 1973.
Theo điều 3 khoản (c): ”Các lực lượng chính quy thuộc mọi quân chủng và binh chủng, và các lực lượng không chính quy của các bên ở miền Nam Việt Nam phải ngừng các hoạt động tấn công nhau…”

Trong vòng 60 ngày kể từ ngày ký hiệp định, khoảng 23.700 quân nhân Hoa Kỳ đã rút về nước theo điều 5 của hiệp định. Như vậy, người Mỹ đã chính thức rời khỏi cuộc chiến dai dẳng.

Trước tháng 1.1974, Mặt trận Giải phóng Miền Nam mở các cuộc phản công nhỏ ở các vùng xa xôi hẻo lánh để giành đất. 55 quân nhân VNCH tử trận sau hai vụ đụng độ. Trong giai đoạn ngưng bắn có 25.000 trường hợp quân nhân miền Nam tử vong. Tổng thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu tuyên bố Hiệp định Paris không còn hiệu lực.

Ngày 08.10.1974, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam ra tuyên bố không thương thuyết với chính quyền VNCH.

Tiếp theo đó, Bộ Tư lệnh miền phát lệnh cho toàn thể các lực lượng Quân giải phóng miền Nam Việt Nam tiến lên “kiên quyết trừng trị bọn Mỹ – Thiệu ngoan cố và hiếu chiến, kiên quyết đập tan hệ thống đồn bốt của địch, mở rộng vùng giải phóng, giành quyền làm chủ về tay nhân dân”; “Hãy vượt mọi gian khổ, khó khăn, đạp lên đầu thù xốc tới giành thắng lợi. Hãy đánh mạnh, đánh liên tục, đánh tiêu diệt gọn quân địch, đánh cho chúng tan rã về tinh thần, tư tưởng, suy sụp về tổ chức, đạt yêu cầu cao của mùa khô. Hãy đánh giỏi, công tác giỏi, xây dựng giỏi, giành thắng lợi giòn giã. Giương cao cờ quyết chiến, quyết thắng. Tấn công như năm 1972, nổi dậy như đồng khởi, diệt gọn nhiều đơn vị, nhiều đồn bốt địch, giải phóng nhân dân… Toàn thể các đồng chí hãy anh dũng tiến lên!”

Tình trạng miền Nam Việt Nam trở nên nghiêm trọng hơn vào cuối năm 1974 khi Quốc hội Hoa Kỳ thông qua đạo luật 1974 Đạo luật Viện trợ Ngoại quốc (Foreign Assistance Act), chấm dứt tất cả những viện trợ quân sự. Điều này có nghĩa là Hoa Kỳ không thể thể dùng không lực để trợ giúp miền Nam Việt Nam khi cộng sản Bắc Việt (CSBV) vi phạm Hiệp Định Paris.

Sau khi Đạo Luật Viện Trợ Ngoại Quốc 1974 ban hành ít lâu, CSBV tiến đánh và chiếm tỉnh Phước Long vào ngày 6-1-1975 và tỉnh Bình Long vào ngày 7-1-1975. Khi không thấy Hoa Kỳ có phản ứng nào cả, ngày 8-1-1975 Hà Nội ra lệnh tổng tấn công để giải phóng miền Nam bằng cách ngang nhiên xua quân vượt qua biên giới Bắc -Nam, tấn công toàn diện Vùng I và II Chiến Thuật vào tháng 3-1975 và cuối cùng chiếm Sài Gòn vào 30-4-1975.

Điều 11 của Hiệp định Paris qui định rõ: ”Sau khi ngừng bắn, hai bên ở Việt Nam sẽ: Thực hiện hòa giải và hòa hợp dân tộc, xóa bỏ thù hằn, cấm mọi hành động trả thù và phân biệt đối xử với những cá nhân đã hợp tác với bên này, hoặc bên kia”.

Trái với tinh thần đó, sau “đại thắng mùa xuân” năm 1975, một chương trình mang tên “học tập cải tạo” – một hình thức tù đày không xét xử - đã được áp dụng cho những binh lính chế độ VNCH cũng như cho những người phục vụ chính quyền VNCH trước 1975. Như một công bố của nhà cầm quyền mới: "Việc tổ chức cho ngụy quân, ngụy quyền và các đối tượng phản động ra trình diện học tập cải tạo thể hiện chính sách nhân đạo của Đảng và Nhà nước, có tác dụng phân hóa hàng ngũ bọn phản động, cô lập bọn đầu sỏ ngoan cố, đập tan luận điệu tuyên truyền chiến tranh tâm lý của địch, tranh thủ được sự đồng tình và ủng hộ của nhân dân."

Có tổng cộng 80 trại cải tạo trải dài khắp nước, đặc biệt là những vùng xa xôi hẻo lánh. Sau 1975 có 1.000.000 người phải ra trình diện. Thông thường, thời gian cải tạo từ 1-12 năm. Cá biệt có trường hợp bị cầm cố đến 33 năm. Những người bị bắt đi học tập cải tạo không được đối xử như tù binh chiến tranh theo công ước Geneve, mà phải lao động khổ sai trong các công trường lao động, ăn uống thiếu thốn. Và khi bỏ mạng, họ chỉ được chôn cất sơ sài, thảm cảnh này thật sự đã gây khó khăn cho thân nhân họ khi tìm kiếm mộ sau này.

Đến năm 1980, nghĩa là 15 năm sau cuộc chiến, Chính phủ Việt Nam thừa nhận còn 26.000 người còn bị giam giữ trong nhiều trại cải tạo. Tuy nhiên, một số quan sát viên ngoại quốc ước tính khoảng 100.000 đến 300.000 vẫn bị giam. Ước tính của Hoa Kỳ cho rằng khoảng 165.000 người đã chết trong khi bị giam giữ.

Bên cạnh đó, thế hệ con em của những người đã “lỡ” tham gia trong chế độ VNCH cũng nhận được sự đối đãi không kém phần tệ bạc. Họ không được cách mạng cho phép vào đại học như là “một cái tát tai nghiệt ngã… Như một thân cây đang vươn lên khao khát đón ánh nắng cuộc đời thì bị bẻ cụt ngọn” (Bên Thắng Cuộc, Giải phóng, Huy Đức).

CÓ HAY KHÔNG HÒA HỢP- HÒA GIẢI?

“The axe forgets, the tree remembers” – “Cây rìu có thể quên nhưng cái cây còn nhớ mãi”… một câu ngạn ngữ nước ngoài nói như vậy.

Chính quyền Việt Nam đã bao giờ sẵn sàng cho việc hòa giải hòa hợp và thực hiện các giải pháp hòa giải hòa hợp? “Từ Bắc vô Nam nối liền nắm tay”, trước khi cuộc chiến Việt Nam kết thúc, những “người anh em” phía Nam đã muốn “nối vòng tay lớn”. Tuy nhiên, dù có “đầu hàng vô điều kiện” nhưng đã không thể có hòa hợp và hòa giải vô điều kiện. Các trại cải tạo lao động- thực chất là các trại giam giữ là minh chứng hùng hồn cho nhận định ấy.

Không thể có hòa hợp- hòa giải khi những cụm từ “sấm sét đêm giao thừa” còn xuất hiện trong sách giáo khoa lịch sử của bậc tiểu học, hay những cụm từ “tổng tiến công tết Mậu Thân” – cuộc tiến công gây tang tóc cho bao người dân Huế, hay “đại thắng mùa xuân” – nhắc về cuộc tiến công mà sau đó bao gia đình miền Nam phải gánh chịu đau thương, cứ hàng năm đến hẹn lại lên.

Không thể có hòa giải và hòa hợp khi mà những thương phế binh Việt Nam Cộng Hòa không nhận được sự chăm sóc về y tế chữa bệnh và các chính sách trợ cấp xã hội giống như các thương phế binh của “bên thắng cuộc”.

Không thể có hòa hợp hòa giải khi mà các nghĩa trang tử sĩ Việt Nam Cộng Hòa không được phép duy tu và tôn tạo, thân nhân của họ không được phép tự do thăm viếng. Hãy nhớ, không có kẻ thắng người thua trong cuộc chiến huynh đệ tương tàn kéo dài đến 21 năm dằng dặc, chỉ có nỗi đau ngút ngàn ở lại!

Không thể có hòa hợp- hòa giải khi rất nhiều người đứng đầu chính quyền ở Hà Nội và các cơ quan truyền thông của nhà nước vẫn suốt ngày ra rả về “ thế lực thù địch và phản động”, “âm mưu diễn biến hòa bình”.

Không thể có hòa hợp- hòa giải, khi còn có một quốc hội “đảng cử dân bầu” với 90% là đảng viên, mà tiếng nói của họ không đại diện cho những mong muốn của người dân.

Không thể có hòa hợp- hòa giải, khi những người dân cất tiếng nói đòi phản biện, khiếu kiện, đấu tranh ôn hòa còn bị đánh đập tàn nhẫn và bị giam cầm.

Người đặt các điều kiện cho hòa hợp- hòa giải bây giờ là nhân dân, chứ không phải chính quyền luôn nói những lời “chót lưỡi đầu môi”.


Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin cũ hơn

Ý kiến bạn đọc

Mã an toàn:   Mã chống spamThay mới     

 

Giới Thiệu và Điều Lệ

Giới Thiệu và Điều Lệ 1.    Báo điện tử Người Việt Diễn Đàn được thành lập nhằm tạo điều kiện cho sự trao đổi quan niệm qua những bài viết, những ý kiến đóng góp của bạn đọc và những nhà trí thức..để góp phần vào quá trình Hòa Giải và Hòa hợp Dân Tộc. Làm cầu nối cho các thế hệ...