ĐOẠN CUỐI CỦA CUỘC XẢ SÚNG GẠC MA. ‘Không có chữ Gạc Ma nào trong sách giáo khoa’

Đăng lúc: Thứ ba - 14/03/2017 03:39 - Người đăng bài viết: nguoivietdiendan
Ba người ở bìa trái theo thứ tự là các anh Thoa, Thống và Đông, từng bị Trung Quốc giam cầm. Ảnh: FB Đỗ Hùng

Ba người ở bìa trái theo thứ tự là các anh Thoa, Thống và Đông, từng bị Trung Quốc giam cầm. Ảnh: FB Đỗ Hùng

"Sách giáo khoa phải tôn trọng và trả lại những sự thật lịch sử. Sự kiện Gạc Ma bị “quên” trong sách giáo khoa là điều khó chấp nhận. Chúng ta không tưởng nhớ, tri ân đúng nghĩa các liệt sĩ đã hy sinh ở Hoàng Sa, Trường Sa nói chung, Gạc Ma nói riêng thì làm sao giáo dục cho thế hệ trẻ đạo lý “Uống nước nhớ nguồn”, biết trân trọng những giá trị lịch sử, từ đó có thái độ và trách nhiệm với Tổ quốc?"

ĐOẠN CUỐI CỦA CUỘC XẢ SÚNG GẠC MA

FB Đỗ Hùng

14-3-2017

Ba người ở bìa trái theo thứ tự là các anh Thoa, Thống và Đông, từng bị Trung Quốc giam cầm. Ảnh: FB Đỗ Hùng

Cuộc giằng co và xả súng xảy ra vào buổi sáng 14 tháng 3, lúc bấy giờ trung sĩ Nguyễn Văn Thống, tiểu đội trưởng thuộc đơn vị công binh E83, đang ở trên boong tàu HQ 604. Từ chỗ đứng của mình, anh thấy rõ các đồng đội đang cầm cự với lính Trung Quốc, rồi đối phương cho thuyền nhỏ chạy vòng vòng xả súng lên tàu. Pháo lớn bắt đầu nã vào chiếc HQ 604. Lực lượng Việt Nam trên tàu liền dồn vào cabin rất đông, đạn địch vẫn không ngớt lia tới những con người hầu như không được vũ trang. Sau một vài loạt đạn, Thống gục xuống. Trong cơn mê man, anh vẫn cảm nhận được thân tàu chao đảo và chìm xuống rất nhanh, nhưng do mất máu nhiều, anh đã không đủ sức để thoát ra ngoài. Thế rồi, luồng nước mạnh tràn vào khoang tàu đã đẩy trung sĩ Thống cùng nhiều chiến sĩ khác, còn sống hoặc đã hy sinh, ra ngoài.

Khi hồi tỉnh trở lại vào buổi trưa, Thống thấy mình đang ôm một mảnh gỗ mặc cho nước cuốn đi. Bủa vây anh lúc này là những mảnh vỡ từ con tàu HQ 604 đã bị đánh chìm, thi thể các đồng đội hy sinh và màu nước biển vốn thẳm xanh giờ chuyển sang đỏ hồng vì máu. Một vài đồng đội bị thương đang gắng gượng bám vào vật trôi nổi. Nhiều người rên rỉ vì đau. Thống bị thương ở mặt, đạn phạt một phát ngay dưới mắt trái và một mảnh khác ở bàn tay phải. Máu chảy mỗi lúc một nhiều, nước biển thấm vào đau tận xương tủy, đến mức tê dại. Phía xa, tàu lớn Trung Quốc vẫn lởn vởn, trong khi xuồng nhỏ của đối phương vẫn chạy vòng vòng, đạn vẫn bắn càn xuống vùng biển có những con người chới với. Trên vùng bãi cạn chỗ nổi chỗ chìm, nhiều đồng đội của Thống bị thương nặng không bơi được, trở thành mục tiêu cho đạn chì.

Lênh đênh trên biển tới tầm giữa buổi chiều, trung sĩ Thống thầm nhủ mình cầm chắc hy sinh, điều lo lắng của anh lúc này là không biết làm thế nào để nhắn gửi về cho gia đình. Tấm gỗ trôi mãi, không biết sau bao lâu thì anh bắt gặp Lê Văn Đông, cùng quê Quảng Bình, đang bơi ngược chiều. Thống liền gọi lại, hỏi bạn có sao không, rồi anh nhắn tên mình, quê quán, người thân để lỡ mình có chết mà bạn sống sót thì về nói với gia đình mình. Nhắn xong như vậy anh thấy yên tâm phần nào, đã sẵn sàng đối mặt với cái chết. Rồi đây, thân xác anh sẽ hòa vào biển và mãi mãi ở lại nơi này. Quê hương có rất nhiều mộ gió từ những cuộc chiến trong quá khứ, giờ sẽ thêm những phần mộ gió của anh và đồng đội, sau cuộc đau thương giữa biển Trường Sa.

Bơi được khoảng hơn một tiếng nữa thì trung sĩ Thống thấy tàu Trung Quốc xuất hiện trước mặt, vứt dây câu xuống và kéo cả Thống lẫn Đông lên. Thống bị thương rất nặng, các cơn đau dồn dập quật anh tưởng như chết đi được. Đông cũng bị vài mảnh đạn cắm vào lưng, máu không ngừng túa ra.

Sau khi bị bắt lên tàu, Thống, Đông cùng nhiều anh em nữa bị trói, bịt mắt, bỏ đói trong hầm tàu. Nhiều anh em ngất đi vì đau đớn, đói khát, kiệt sức. Tàu chạy mãi miết, không biết qua bao nhiêu thời gian, theo ước tính của các anh là khoảng ba ngày hai đêm, thì cập cảng ở đảo Hải Nam, hình như là vậy, anh em chỉ đoán thôi. Sau đó các tù binh được đưa vào Quảng Đông giam giữ.

Những con người trẻ tuổi hôm nào ra đi không hề mảy may một dự cảm thiên tai, chợt nhiên thấy mình bị bủa vây bởi làn đạn thù, và rồi khi cuộc chiến kết thúc, họ bị đẩy vào ngục tù.

“Về tới Trung Quốc, chúng đòi cưa tay cưa chân tôi để cứu sống. Tôi quyết không chịu, tôi thà chết chứ không để cho chúng nó cưa tay cưa chân”, nhiều năm sau, cựu chiến binh Nguyễn Văn Thống hồi tưởng.

——–

Đây là một đoạn trong các chương sách mà mình với Bùi Thư viết cho dự án sách Gạc Ma.

Cuốn sách đến nay vẫn chưa được phép ra đời. Mình trích một đoạn rất ngắn ở đây như một tưởng niệm.

Nhiều năm đã trôi qua kể từ ngày đau thương ấy, tiếng đạn thù và những ngày ngục tù đã lùi xa nhưng trong lòng những người lính năm xưa vẫn còn bao day dứt. Một ngày đầu năm 2016, cựu binh Nguyễn Văn Thống nhắn tin cho mình:

“Trời lại trở gió, các vết thương tôi lại đau, tôi ngóng nhìn ra biển cả lại càng nhớ thương những người bạn thân cùng vui buồn một thời quân ngũ giờ chỉ còn lại ký ức của những thương đau mà quân thù đã tàn sát vào sáng 14 tháng 3 năm 1988 vào tàu HQ 604 ở Gạc Ma. Tôi thật chán ghét chiến tranh, mong sao đất nước mãi bình yên tươi đẹp để vong linh của những người bạn và đồng đội nơi biển khơi được trở về đất mẹ. Đồng đội ơi, mình và Tổ quốc mãi nhớ đồng đội!”.


Thượng úy Chương gốc Lệ Thủy, Quảng Bình. Sau cuộc chiến, ông về sống âm thầm trên Tây Nguyên. Mãi tới gần đây ông mới gặp lại được các đồng đội cũ

 

 ‘Không có chữ Gạc Ma nào trong sách giáo khoa’

ZingThạc sĩ Trần Trung Hiếu

Trường THPT chuyên Phan Bội Châu, Nghệ An

14-3-2017

“Đề cập Gạc Ma, sách giáo khoa cần viết ngắn gọn về âm mưu, thủ đoạn đánh chiếm và sát hại 64 bộ đội Việt Nam, từ đó nêu hệ quả của sự kiện này”, thầy Trần Trung Hiếu đề xuất.

Đầu năm 1988, Trung Quốc chiếm đóng và xây dựng bất hợp pháp đảo Gạc Ma. 64 cán bộ, chiến sĩ đã anh dũng hy sinh cùng tàu HQ 604.

28 năm trôi qua, đến nay, theo đánh giá của nhiều chuyên gia, giáo viên Lịch sử, hải chiến Gạc Ma là một trong những sự kiện lịch sử lớn, phải đưa vào sách giáo khoa giảng dạy trong nhà trường. Những người đã hy sinh cho đất nước phải được tôn vinh xứng đáng.

Thạc sĩ Trần Trung Hiếu, giáo viên Lịch sử, trường THPT chuyên Phan Bội Châu, Nghệ An chia sẻ bài viết với Zing.vn về thực tế vị trí của hải chiến Gạc Ma nói riêng, đảo Trường Sa, Hoàng Sa nói chung trong sách giáo khoa hiện hành.

 

Thiếu sót lớn

Ngày 14/3/1988, quân đội Trung Quốc đánh chiếm đảo Gạc Ma (thuộc quần đảo Trường Sa) của Việt Nam. 28 năm qua, vì nhiều lý do khác nhau, người ta đã quên dần sự thật lịch sử này. Nhưng, những người thân của các liệt sĩ Gạc Ma và cả đồng đội còn sống sót sau sự kiện vẫn không thể và không bao giờ quên nỗi đau đó. Vết thương chưa lành và vẫn còn đau, bởi sự kiện Gạc Ma đang nhạt dần và có nguy cơ biến mất.

28 năm, thời gian quá dài và quá đủ để chúng ta nhìn nhận lại một sự thật hiển nhiên, dù nó rất phũ phàng và đau xót. Rất đáng để chúng ta phải trăn trở là tại sao một sự kiện như thế nhưng không hề được nói một từ nào trong sách giáo khoa Lịch sử phổ thông hiện hành.


Thạc sĩ Trần Trung Hiếu (bên phải) cùng giáo sư Phan Huy Lê – Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam.

Rất nhiều tờ lịch treo tường hàng chục năm qua không hề nhắc đến các sự kiện biên giới phía Bắc (17/2/1979), biên giới Tây- Nam và các sự kiện liên quan chủ quyền biển đảo Hoàng Sa (19/1/1974), Gạc Ma (14/3/1988).

Một thực tế cho thấy nhiều học sinh phổ thông thắc mắc vấn đề chủ quyền 2 quần đảo (hiện nay là hai huyện đảo) Hoàng Sa, Trường Sa không được nhắc đến trong sách giáo khoa môn Lịch sử. Và đương nhiên, các sự kiện Trung Quốc dùng vũ lực đánh chiếm như Hoàng Sa (1974), Gạc Ma (1988) cũng không được viết một dòng chữ nào.

Với góc độ giáo viên dạy Lịch sử trường phổ thông, tôi cho rằng đó là thiếu sót lớn, dù người ta cố tình biện minh với bất kỳ lý do gì.

Vấn đề này, sách giáo khoa cần minh bạch thông tin, nói đúng, nói đủ sự kiện. Hoàng Sa đã bị Trung Quốc chiếm đóng trái phép từ năm 1974 và Gạc Ma (thuộc quần đảo Trường Sa) hiện nay thuộc quyền chiếm đóng và quản lý trái phép của Trung Quốc.

Nói đến sự kiện này, sách giáo khoa chỉ cần viết ngắn gọn: Âm mưu, thủ đoạn đánh chiếm và sát hại 64 bộ đội Việt Nam ở Gạc Ma, từ đó nêu lên hệ quả của sự kiện này.

Sách giáo khoa cần khẳng định lại rằng cuộc đấu tranh đòi chủ quyển đã mất (Hoàng Sa, Gạc Ma và một số đảo khác) là vấn đề phức tạp, không dễ dàng. Dù xét về phương diện lịch sử và pháp lý quốc tế, Việt Nam đấu tranh đòi lại chủ quyền là hoàn toàn đúng đắn.

Nếu chúng ta cố tình che đậy, né tránh những sự thật hiển nhiên này, sẽ gây ra sự khủng hoảng niềm tin: Học sinh tin vào ai, sách giáo khoa, lời thầy cô giáo hay thông tin trên các phương tiện truyền thông, Internet?

Sách giáo khoa phải tôn trọng và trả lại những sự thật lịch sử. Sự kiện Gạc Ma bị “quên” trong sách giáo khoa là điều khó chấp nhận.

Chúng ta không tưởng nhớ, tri ân đúng nghĩa các liệt sĩ đã hy sinh ở Hoàng Sa, Trường Sa nói chung, Gạc Ma nói riêng thì làm sao giáo dục cho thế hệ trẻ đạo lý “Uống nước nhớ nguồn”, biết trân trọng những giá trị lịch sử, từ đó có thái độ và trách nhiệm với Tổ quốc?

Nhắc lại sự kiện Gạc Ma 28 năm trước không phải nhằm khơi sâu mối thù hằn và sự tàn ác của chiến tranh, phá vỡ quan hệ hợp tác trong xu thế hội nhập, toàn cầu hóa. Nhưng thế hệ trẻ cần biết lịch sử để luôn đề phòng, cũng như tôn vinh, tưởng nhớ và tri ân các bậc tiền nhân ngã xuống vì Tổ quốc, từ đó sống có trách nhiệm và yêu đất nước mình.

Vị trí của Trường Sa, Hoàng Sa trong sách giáo khoa


Trên thực tế, từ năm 2012 đến nay, sách giáo khoa Lịch sử phổ thông vẫn giữ nguyên như cũ và chưa có thêm dòng chữ nào về chủ quyền Việt Nam ở Hoàng Sa, Trường Sa.

Ở sách giáo khoa Lịch Sử lớp 7, bài 20: Nước Đại Việt thời Lê sơ (1428-1527), trang 95, hình 44, có Lược đồ Hành chính nước Đại Việt thời Lê sơ, hoàn toàn không vẽ và không giải thích về chủ quyền Việt Nam ở Hoàng Sa, Trường Sa.

Bài 25: Phong trào Tây Sơn (trang 123, hình 57) có Lược đồ Tây Sơn khởi nghĩa chống các thế lực phong kiến và chống quân xâm lược nước ngoài, có đánh dấu vị trí của Hoàng Sa, Trường Sa như các bản đồ Việt Nam khác, nhưng không có thông tin nói đến chủ quyền của Việt Nam ở các quần đảo này.

Trong bài 27: Chế độ phong kiến nhà Nguyễn (trang 135, hình 6) có Lược đồ các đơn vị hành chính thời Nguyễn (từ năm 1832), đánh dấu Hoàng Sa, Trường Sa như bản đồ Việt Nam khác, nhưng không giới thiệu thông tin nào về chủ quyền của Việt Nam ở các quần đảo này.

Tại sách giáo khoa Lịch sử lớp 9, bài 27: Cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp xâm lược kết thúc (1953-1954), trang 122, hình 53, có hình thái chiến trường trên mặt trận Đông Xuân 1953-1954. Dù đánh dấu vị trí của Hoàng Sa, Trường Sa như bản đồ Việt Nam khác nhưng không giới thiệu thông tin về hoạt động của quân dân ta ở Hoàng Sa, Trường Sa trong những năm 1953-1954.

Đến bài 30: Hoàn thành giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (1973-1975), trang 163, hình 77, có Lược đồ cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975 đánh dấu quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và có vẽ đường mũi tên từ khu vực Cam Ranh ra Trường Sa, nhưng không một lời giải thích. Người đọc không thể hiểu vấn đề lịch sử chủ quyền ở đây như thế nào.

Với sách giáo khoa Lịch sử lớp 10, bài 25: Tình hình chính trị, kinh tế, văn hóa dưới triều Nguyễn, trang 126, hình 49, có Lược đồ các đơn vị hành chính Việt Nam thời Minh Mạng, vẫn đánh dấu vị trí  Hoàng Sa, Trường Sa như các bản đồ Việt Nam khác, nhưng không có lời giải thích về chủ quyền của Việt Nam.

Sách giáo khoa Lịch sử lớp 12, bài 23: Khôi phục và phát triển kinh tế – xã hội ở miền Bắc, giải phóng hoàn toàn miền Nam (1973-1975), trang 193, hình 79, có Lược đồ diễn biến cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975, giống như lược đồ của sách giáo khoa Lịch sử lớp 9. Học sinh cũng không thể nhận ra lược đồ này “thể hiện rõ quân ta giải phóng đảo Trường Sa từ tay quân đội Sài Gòn”.

Như vậy, hầu hết lược đồ chỉ xác định vị trí của các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa trong khung chung của một bản đồ nền chính thức Việt Nam hiện nay, mà không minh chứng cho vấn đề nào của chủ quyền biển đảo trong lịch sử. 

Ngoài ra, sách giáo khoa Lịch sử phổ thông đều không nhắc đến 2 sự kiện quan trọng liên quan cuộc đấu tranh giành lại chủ quyền và bảo vệ chủ quyền 2 quần đảo này sau năm 1975. Đó là sự kiện đầu năm 1974, Trung Quốc dùng vũ lực chiếm đóng quần đảo Hoàng Sa từ quân đội Việt Nam Cộng hòa và trận chiến Gạc Ma năm 1988.

Tôi là người dạy Lịch sử và các đồng nghiệp cũng rất mong muốn Bộ GD&ĐT, trong khi chờ sách giáo khoa mới, nên kịp thời chỉ đạo các trường, sở GD&ĐT trong cả nước bằng văn bản, để lồng ghép nói về công cuộc bảo vệ biên giới và chủ quyền biển đảo.

Mời đón xem bài 4: ‘Dạy Lịch sử thiếu biển đảo như vẽ người thiếu đôi mắt’

Giáo sư Phan Huy Lê – Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, nhà sử học Dương Trung Quốc cùng nhiều chuyên gia giáo dục, thầy cô dạy môn Lịch sử, du học sinh đều cho rằng: Phải đưa cuộc chiến Gạc Ma, cũng như những cuộc chiến tranh bảo vệ biển đảo của Tổ quốc vào sách giáo khoa.



Nguồn tin: anhbasam
Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin cũ hơn

Ý kiến bạn đọc

Mã an toàn:   Mã chống spamThay mới     

 

Kêu Gọi Đóng Góp Bài Viết

- Ban biên tập  Người Việt Diễn Đàn khích lệ và chào đón các cây bút, các Bloger  ở tất cả mọi tầng lớp, lứa tuổi tham gia cùng viết bài bằng cả 2 thứ tiếng Anh và Việt trên mọi lĩnh vực của cuộc sống bằng thơ, ca, nhạc họa, tranh ảnh nhằm mục đích chung góp ý xây dựng Việt Nam thành một...