Trường hợp “Bác Hồ”. Xin nói đôi lời nhân ngày “Sinh nhật Bác”

Đăng lúc: Thứ sáu - 19/05/2017 19:07 - Người đăng bài viết: nguoivietdiendan
Hồ Chí Minh tự xưng là Bác Hồ với dân Việt

Hồ Chí Minh tự xưng là Bác Hồ với dân Việt

"Ở Berlin, nơi có cộng đồng Nghệ An lớn nhất hải ngoại, tôi học được rất nhiều từ Việt cổ và những thói quen ngôn ngữ khác xa tiếng Việt phổ thông. Người xứ Nghệ có thể xưng tôi hay tui, tau với cha mẹ. Cha mẹ có khi gọi con cái, bất kể con trai hay con gái, là ông. Và họ dùng tràn lan bác – chú, cứ nhiều tuổi hơn xưng bác, ít tuổi hơn xưng chú, phơi phới giữa Berlin. Hồ Chí Minh, người xứ Nghệ nổi tiếng nhất, bôn ba qua bao nhiêu xứ sở, ngôn ngữ và văn hóa, có lẽ vẫn giữ thói quen xưng hô ấy."

Trường hợp “Bác Hồ”

Tác giả: Phạm Thị Hoài

.KD: Bạn bè gửi cho bài viết này với lời bình: Phạm Thị Hoài là một nữ nhà văn xù xì nổi tiếng, có cái nhìn “gai góc”.

Cho thấy những suy nghĩ của bà về Trường hợp “Bác Hồ” là khách quan (Nat)
.
KD: Còn theo mình, ở góc độ văn hóa, “Bác Hồ” là người lãnh đạo hiếm hoi có gốc gác và số phận mà không một vị học trò nào của ông vượt qua nổi. Ông là con của xứ “đồ Nghệ” nổi tiếng, xứ có đạo học sâu sắc, cả ý chí lẫn nền tảng đều mạnh mẽ, nhưng quan trọng hơn, còn rất trẻ tuổi đã bôn ba xứ người, mà nước Pháp là tinh hoa văn hóa của thế giới. Sự kết hợp chất “đồ Nghệ” độc đáo và sự ảnh hưởng văn hóa Pháp, văn minh châu Âu rất sớm trong quá trình bôn ba, đã tạo nên ở ông một tư duy và cách ứng xử mềm dẻo, khôn ngoan, và cực kỳ tinh tế.
.
Chủ Blog đã biên tập một số đoạn, cho phù hợp tinh thần Blog, phù hợp với bài viết về vấn đề ngôn ngữ
———————-  


Sau đề nghị của tôi về xưng hô, nhiều độc giả lưu ý rằng cha đẻ của cách xưng hô gia đình hóa trong xã hội Việt Nam thời đại xã hội chủ nghĩa là vị “cha già dân tộc”, người tự xưng là “Bác Hồ”. Theo tôi trường hợp “Bác Hồ” không hẳn như vậy.

Khác với những nhà lãnh đạo từ Lê Duẩn trở đi sau này, Hồ Chí Minh thuộc thế hệ các nhà cách mạng xuất thân kẻ sĩ – trí thức trong giai đoạn chuyển tiếp từ Nho học sang Tây học. Xung quanh ông là những người mà tố chất kẻ sĩ – trí thức ấy không chỉ biểu lộ qua sáng tác văn chương, từ Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp, Hoàng Văn Hoan… đến Xuân Thủy, Cù Huy Cận, Tố Hữu, Đặng Thai Mai…

Trước khi ngôn ngữ chính trị Việt Nam trở thành một hỗn hợp của sáo mòn, đơn điệu, vô nghĩa và lố bịch như chuẩn mực ngày nay, nó đã từng kết hợp được cả học vấn truyền thống lẫn ngọn lửa nóng rực của cách mạng ở những năm tháng đầu. Cho đến nay tôi chưa thấy một văn bản chính trị viết bằng tiếng Việt nào vượt qua bản Tuyên ngôn Độc lập do Hồ Chí Minh soạn thảo năm 1945 về hình thức biểu đạt và chất lượng ngôn ngữ: hàm súc, khúc chiết, sắc bén, chính xác, sáng rõ và giản dị. Ngay cả câu mở đầu lấy từ Tuyên ngôn Độc lập của nước Mỹ cũng là một mẫu mực về dịch thuật. Hoặc ngòi bút chính trị của Hồ Chí Minh ở thời điểm ấy đạt đến độ chín thích hợp nhất, hoặc giải phóng dân tộc khỏi ách thống trị của thực dân Pháp là chủ đề tâm huyết nhất của cuộc đời ông, nên những áng văn sau này của Hồ Chí Minh cũng không vượt qua được Tuyên ngôn Độc lập. Song ngôn ngữ trong hai Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ cũng như trong Di chúc vẫn cho thấy một khả năng diễn đạt xuất sắc. Một người làm việc với ngôn ngữ như thế không thể không có ý thức sâu sắc về cách xưng hô trong tiếng Việt.

Tôi không ngại nói quá khi khẳng định rằng trước và sau Hồ Chí Minh, khó tìm thấy một người Việt Nam nào trải qua nhiều tình huống xưng hô một cách tự nhiên và lịch lãm như ông. Trong toàn bộ lịch sử Việt Nam, chắc chắn ông là người đứng đầu nhà nước giữ kỉ lục về tiếp xúc với các tầng lớp và thành phần đủ mọi lứa tuổi trong xã hội. Chúng ta hãy điểm một số cách xưng hô của Hồ Chí Minh trong giao tiếp, trước khi “Bác Hồ” trở thành quy phạm xưng hô của người Việt[1].

Xưng hô chính thức và đầu tiên của Hồ Chí Minh trước công luận là trong câu hỏi nổi tiếng, khi ông đọc Tuyên ngôn Độc lập ngày 2-9-1945: “Đồng bào nghe tôi nói có rõ không?“. Đồng bào và tôi. Từ bao giờ cách gọi đồng bào này biến mất? Có lẽ từ khi ông qua đời? Mỗi lần nói với toàn thể hay một tập hợp người Việt ông đều dùng chữ đồng bào này. Ở các lời tuyên bố, kêu gọi, thường là Hỡi đồng bào cả nước, Kính cáo đồng bào. Ở các cuộc tiếp xúc, thường là Thưa đồng bào hay Thưa đồng bào yêu quý. Trong thư, thường rất cụ thể: Gửi đồng bào Công giáo, đồng bào Mán, đồng bào nông gia, đồng bào hậu phương, đồng bào tản cư, đồng bào Nam bộ, đồng bào văn hóa và trí thức, đồng bào điền chủ… Và xưng tôi hoặc chúng tôi, khi ông thay mặt chính phủ phát biểu. Xưng hô cuối cùng của ông, trong Di chúc, cũng giữ nguyên như vậy: đồng bào và tôi.

Từ vị trí xưng tôi hay chúng tôi, Hồ Chí Minh uyển chuyển khi đứng trước những đối tượng khác nhau. Những người như Nguyễn Hải Thần, Vũ Hồng Khanh được ông gọi là tiên sinh, tướng Trần Tu Hòa là Trần tướng quân, giám mục Lê Hữu Từ là cụ, linh mục Lê Văn Yên là ngài, các ông Huỳnh Thúc Kháng, Bùi Bằng Đoàn, Nguyễn Văn Tố… đều là cụ, bác sĩ Vũ Đình Tụng là ngài, đại diện các gia đình hảo tâm quyên góp cho chính phủ là các bà và các ngài, hội hảo tâm là quý hội, một ông lang đạo ở Hòa Bình là ông, Chủ tịch Quốc hội là cụ chủ tịch, một bộ trưởng là cụ bộ trưởng, đại diện các ủy ban nhân dân là các bạn… Ông thưa các cụ và các chú, thưa các ngài trong giới công thương, thưa các vị linh mục, thưa các vị kỳ lão và nhân dân, thưa anh chị em thanh niên Nam bộ, thưa toàn quốc đồng bào và toàn thể đồng chí, thưa các bậc phụ huynh, thưa các hiền nhân chí sĩ, thưa các bạn sĩ, nông, công, thương, binh, thưa các ông bộ trưởng, thưa các bạn nhân viên chính phủ, thưa hai cụ già du kích, thưa anh em họa sĩ, thưa các vị thân hào thân sĩ, thưa những người bạn Pháp ở Đông Dương, thưa ngài Thống chế Stalin, thưa bà cụ, thưa lão du kích… Trong một bức thư gửi ngụy binh, ông gọi họ là anh em. Gửi những người đi lính cho Pháp và bù nhìn, ông viết: tôi thiết tha kêu gọi các người. Viết thư cho gia đình mình, ông đề: Gửi họ Nguyễn Sinh và xưng tôi. Tất cả cho thấy một nghệ thuật xưng hô lão luyện.

Vậy “Bác Hồ” từ đâu ra?

Ngay trong tháng 9-1945, Hồ Chí Minh xưng là Già Hồ gửi thư đến các trẻ em yêu quý.  Trong “Thư gửi thiếu nhi Việt Nam đêm Trung thu đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa” 1945, ông viết: “Các em, đây là Hồ Chí Minh nói chuyện với các em… Các em có hứa với tôi như thế không?… Chào các em, Hồ Chí Minh“, một phong cách không giấu ảnh hưởng của ngôn ngữ và văn hóa phương Tây. Trong thư gửi học sinh, ông cũng xưng là tôi, gọi học sinh là các em. Nói chuyện với thanh niên, ông gọi họ là các anh em, xưng là tôi. Trong một bài thơ tặng cháu Nông Thị Trưng, ông gọi cháu và xưng ta.

Lần đầu tiên Hồ Chí Minh xưng bác và gọi cháu là trong “Trả lời thư chúc mừng của Hội Nhi đồng Công giáo khu Thượng Mỹ, huyện Phú Xuyên, Hà Đông” ngày 10-5-1947: “Bác cảm ơn các cháu. Bác khuyên các cháu: Biết giữ kỉ luật, siêng học siêng làm, yêu Chúa yêu nước. Bác hôn các cháu.” Và kí với Hồ Chí Minh, chứ không với Bác Hồ. Ba tháng sau, trong “Thư gửi nhi đồng toàn quốc nhân kỉ niệm Cách mạng Tháng Tám” năm 1947, danh xưng Bác Hồ xuất hiện và từ đó được sử dụng.

Song tôi phải nhấn mạnh: Hồ Chí Minh chỉ xưng bác trong hai trường hợp quan hệ. Thứ nhất, trường hợp bác – cháu, với nhi đồng. Ở tuổi 55 khi lên làm Chủ tịch nước, đối với người Việt thuở đó Hồ Chí Minh đã là một người già. Phóng viên báo chí thường gọi ông là Cụ Chủ tịch, cũng như ông gọi những người trạc tuổi mình là cụ. Trong bối cảnh ấy, xưng hô bác – cháu của Hồ Chí Minh với nhi đồng là tự nhiên. Không một nhà lãnh đạo Việt Nam nào cho đến nay biết nói với trẻ em một cách nghiêm túc và tôn trọng mà vẫn không kém thân thiết như “Bác Hồ”[2]. Cuối thư gửi nhi đồng, Hồ Chí Minh thường hôn các cháu. Trong một bức thư, ông còn hôn các cháu rõ kêu, một cử chỉ rất Tây được diễn đạt rất Việt.

Trường hợp xưng bác thứ hai của Hồ Chí Minh là trong quan hệ với những người kém tuổi mình. Bác ở đây không phải là bác – cháu, mà là bác – cô/chú

Chúng ta không lạ cách xưng tôi, gọi một người kém tuổi là chú hay cô nói chung, một cách xưng hô khá trung lập, không nhất thiết gây ấn tượng gia đình chủ nghĩa mà vẫn giữ được sự thân mật và khoảng cách tuổi tác. Với những người cộng sự gần gũi như Vũ Đình Huỳnh, Cù Huy Cận, Đặng Thai Mai, Nguyễn Khánh Toàn…, Hồ Chí Minh sử dụng cách xưng hô này. Xưng tôi hoặc anh. Gọi chú. Trong phạm vi quan hệ hẹp, ít khi trước công luận.

Ở Berlin, nơi có cộng đồng Nghệ An lớn nhất hải ngoại, tôi học được rất nhiều từ Việt cổ và những thói quen ngôn ngữ khác xa tiếng Việt phổ thông. Người xứ Nghệ có thể xưng tôi hay tui, tau với cha mẹ. Cha mẹ có khi gọi con cái, bất kể con trai hay con gái, là ông. Và họ dùng tràn lan bác – chú, cứ nhiều tuổi hơn xưng bác, ít tuổi hơn xưng chú, phơi phới giữa Berlin. Hồ Chí Minh, người xứ Nghệ nổi tiếng nhất, bôn ba qua bao nhiêu xứ sở, ngôn ngữ và văn hóa, có lẽ vẫn giữ thói quen xưng hô ấy.

Ông khá thọ và mất ở tuổi 79. Người hơn tuổi ông thuở ấy không nhiều. Nên với đại đa số thì ông hoặc là bác với các cháu nhi đồng theo trường hợp thứ nhất, hoặc là bác với các cô, các chú theo trường hợp thứ hai. Một lúc nào đó, ông đương nhiên trở thành và chỉ còn là “Bác Hồ”

……..

© 2012 pro&contra

 

[1] Tất cả các trích dẫn trong bài rút từ Hồ Chí Minh toàn tập, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2000.

[2] Để so sánh: năm ngoái một nhà lãnh đạo ngành giao thông Việt Nam đã chân tình khuyên học sinh như sau: “Nếu các cháu khi đi xe gắn máy không được cha mẹ đội mũ bảo hiểm thì kiên quyết không đi, hoặc hãy khóc to để được cha mẹ cho đội mũ bảo hiểm khi tham gia giao thông”.

—————- 

Nguồn: Blog Phạm Thị Hoài


Xin nói đôi lời nhân ngày “Sinh nhật Bác”

Ngụy Hữu Tâm/ Bauxite VN

19/05/2017

Có quá nhiều bài về vấn đề này rồi, nhưng có lẽ nhân dịp này hay hơn thế, về nhân vật này, cũng đáng bàn một chút. Nhưng thực ra, tôi còn muốn hơn thế.

Gần đây có bài của nữ văn sĩ tài ba PTH: Trường hợp “Bác Hồ”, tác giả: Phạm Thị Hoài. Bài hay, xin miễn bàn. Về nhân vật này, đã tốn quá nhiều giấy mực rồi, không chỉ ở ta mà trên khắp thế giới.

Họ Hồ là người Nghệ quá giỏi, nhân vật siêu hạng không chỉ với Việt Nam mà cả với thế giới, nhưng trước hết là với những nước vốn là thuộc địa hay thế giới thứ ba nói chung. Nhưng cái đáng nói là cái lũ ăn theo trên VTV và “đài báo Đảng ta”, lũ “nghệ sĩ dỏm”, hay “dư luận viên”, hay “tu hú” gì thì cũng vậy.

Chúng muốn bằng mọi giá giữ chặt cái thể chế nửa nông nô, nửa phong kiến này càng lâu càng tốt, dĩ nhiên khi đã là “lợi ích nhóm” của lũ cầm quyền thì còn có gì để mà nói nữa!

Tôi chỉ muốn bổ sung thêm chút đỉnh cho bài của PTH về cái tài của họ Hồ.

Chỉ xin kể câu chuyện được cha tôi kể lại, vì lúc ấy tôi mới hơn hai tuổi (dĩ nhiên kể cả tuổi mụ nên chưa biết và nhớ gì!).

Sau Cách mạng Tháng Tám, ‘Bác’, Chủ tịch nước, chễm chệ xe hơi vào ngay Việt Nam Học Xá - là Đại học Bách khoa hiện nay - để thăm gia đình ông giám đốc trẻ (thua mình cả 23 tuổi! mình đã thành ‘cha già dân tộc’ rồi kia mà!). Họ Hồ ôm cậu con trai mới lẫm chẫm biết đi lên lòng mà nựng: “Đây là vị giám đốc tương lai của Trường Đại học Quốc gia Việt Nam!” - Thật tâm lý Á Đông hết cỡ!

Chỉ có điều, cái cậu bé đó sau 70 năm, vẫn là chuyên gia “xách valy cho Tây”!

Lại xin mở rộng ý này ra chút nữa.

Vì sao sau 45 năm, chế độ cộng sản ngã bổ chửng ở khắp Đông Âu, và phải sau đến 70 năm, chế độ ‘tươi đẹp’ này mới vỡ tan tành ở ‘thành trì cách mạng thế giới’?

Chỉ vì nó không có đất sống ở châu Âu với tư duy duy lý. Lấy suy nghĩ, tự do cá nhân - và kèm đó là sức sáng tạo - làm tiêu chí.

Còn ở ‘thành trì cách mạng thế giới’ quy tụ lại 3 nước châu Á: Tàu, Bắc Hàn và - Việt Nam khốn khổ của chúng ta, chế độ cộng sản không những không sụp đổ mà càng ngày càng mạnh hơn.

Ba họ Mao, Hồ và Kim quá giỏi! Hoan hô!

Ba họ đó biết kết hợp cái viễn cảnh quá đẹp của chủ nghĩa cộng sản (nhưng bằng bạo lực để đạt tới và duy trì nó) với tư duy tiểu nông đang còn lạc hậu, chưa qua công nghiệp hóa, của Á Đông để làm cuộc cách mạng đó và duy trì nó cho đến tận ngày hôm nay. Ở một thế giới phẳng, đã tin học hóa, số hóa, toàn cầu hóa!

Cứ xem anh Ủn mang bom nguyên tử và tên lửa vượt đại châu (trong khi người dân vẫn sống bần hàn và mất hết mọi quyền tự do, trên thực tế là lũ nô lệ hiện đại dẫu có là giáo sư, bác sĩ, kỹ sư hay gì gì đi nữa!)

Thế nên phải nói là, ba cái đảng cộng sản này đã thành ‘tinh-yêu quái’ cả rồi!

Phải công nhận là họ quá tài đi!

Càng khó giải cho chúng ta, những người mong muốn sớm có dân chủ đích thực trên đất nước này.

Khó nhưng không phải là chẳng thể giải được.

Mỗi người hãy suy ngẫm để biết trách nhiệm của chính mình. Trước vận hội của lịch sử!

Vì sao những đốm lửa như Đồng Tâm hay Hà Tĩnh chưa đủ mạnh để lan rộng ra được toàn quốc, như điều đã xảy ra Mùa Thu Tháng Tám, 72 năm trước?

Thời cơ chưa tới, hay tại mỗi người dân nước Việt này chưa đủ quyết tâm?

Hay cả hai?

Xin bạn đọc tự ngẫm nghĩ và trả lời hộ tác giả bài báo.

N.H.T.
_________

BBT BVN biên tập và đăng bài này trên tinh thần tôn trọng các luận điểm và văn phong của tác giả. Bài không nhất thiết phản ánh lập trường hay chủ kiến của BVN.

 

Tác giả gửi BVN.

Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin cũ hơn

Ý kiến bạn đọc

Mã an toàn:   Mã chống spamThay mới     

 

Giới Thiệu và Điều Lệ

Giới Thiệu và Điều Lệ 1.    Báo điện tử Người Việt Diễn Đàn được thành lập nhằm tạo điều kiện cho sự trao đổi quan niệm qua những bài viết, những ý kiến đóng góp của bạn đọc và những nhà trí thức..để góp phần vào quá trình Hòa Giải và Hòa hợp Dân Tộc. Làm cầu nối cho các thế hệ...